Từ điển Nam Kỳ xưa

kinh

danh từ

Kênh đào dẫn nước, đi ghe (kinh xáng, mé kinh).

Nói theo ngày nay: kênh

Trong truyện

Chúa tàu sợ Kỉnh Chi nghi, nên lần chơn đi tới, làm như tuồng thừa trời mát mẻ đi theo bờ kinh mà ngó nước trông non.
— Chúa tàu Kim Qui, chương 11
Anh Lý-trường-Mậu, làm Cặp-rằng phụ trong một hãng vận tải dưới Xóm-Chiếu, đạp xe máy chạy chậm-chậm trên bờ kinh này.
— Lạc đường, chương 1
Thằng Hồi nghe hỏi tới đó thì ngó Chánh Tâm, rồi đứng dậy dòm hai bên bờ kinh, không chịu trả lời.
— Vì nghĩa vì tình, chương 17